Bài viết dưới đây giới thiệu đến quý độc giả (quý gia đình) những kiến thức về phong tục cải táng là gì được tổng hợp dựa trên các tài liệu xưa.

Nội dung

Cải táng là gì? những điều cần biết về phong tục cải táng

1. Cải táng là gì?

Theo PGS.TS Trương Sĩ Hùng thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á giải thích rằng, cải táng (hay còn có các tên gọi khác như bốc mả, bốc mộ, cải mả, sang cát, cải cát sang tiều) tức là việc đào huyệt mộ đã chôn người chết cách ngày đào lên khoảng 3 năm hoặc hơn.

Đây là một trong những phong tục mai táng có từ rất lâu đời của người Việt, mặc dù khó có thể xác định một cách rõ ràng thời điểm cụ thể xuất hiện phong tục này. Tuy nhiên gần đây, có những nghiên cứu cho thấy đây không phải là phong tục xuất phát từ văn hóa Việt Cổ.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ khẳng định tục cải táng tuy đã thành một tập tục phổ biến và tồn tại lâu dài của người Kinh như một truyền thống cố hữu nhưng đó là truyền thống ngoại lai, xuất phát từ những tập tục của một bộ phận người Hán cổ xưa di dân từ phương Bắc xuống phương Nam. Khảo cổ học thời kỳ văn hóa Đông Sơn chưa phát hiện tập tục cải táng này.

2. Vì sao lại có tục cải táng?

Tục cải táng thuờg có nhiều nguyên do, mà đa phần các nguyên do đều xuất phát từ việc “phạm âm”. Chẳng hạn như mộ bị động hoặc gia đình có việc âm không tốt.

Một số nguyên do cải táng:

Vì khi gia đình có người mất trong hoàn cảnh vội vã, cấp bách, hoặc tha hương, hoặc do nhà nghèo không có tiền lo liệu mai táng chu toàn, phải mua tạm cỗ ván chôn cất. Sau này gia đình có điều kiện hơn nên tiến hành cải táng để chu toàn cho người mất.

Vì mộ bị động do vấn đề khách quan, chủ quan: ván gỗ xấu bị mối mọt, nước lụt xâm nhập vào quan tài, mộ bị sụt lún do nền đất có kết cấu không vững chắc. Hoặc do khu vực chôn cất bị quy hoạch thành đường cái, xây công trình…bất đắc dĩ phải di dời.

Vì gia chủ nhận thấy gia đình có nhiều sự càn quấy, nghĩ do phạm âm nên cải táng với hy vọng gia tiên phù hộ: cây cối mọc đâm vào mộ hay đột nhiên khô héo, trong nhà có sự buồn rầu kéo dài, bệnh tật, kiện tụng,…

Vì gia chủ muốn cầu công danh phúc lợi nên tìm thầy địa lý xem chỗ cát địa để cải táng, hoặc thấy nhà người khác phát đạt nên muốn đem hài cốt nhà mình táng vào gần mả nhà họ cầu được hưởng dư huệ.

Xem thêm: Bốc mộ là gì? Ý nghĩa của thủ tục bốc mộ

3. Việc cải táng nên được diễn ra khi nào?

 Theo sách Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính, vệc cải táng thường diễn ra vào thời gian sau ba năm đoạn tang người mất, hoặc thêm một vài năm nữa. Lúc này con cái sẽ lo dến việc cải táng.

Khi cải táng, gia đình thường tìm thầy xem âm dương, lựa chọn ngày lành tháng tốt giờ đẹp mới tiến hành cải táng, trước khi hành lễ,  trước khi tiến hành lễ còn phải tính xem năm đó có hợp với tuổi của vong không, có hợp tuổi của trưởng nam trong nhà không.

Thường việc cải táng hay được tiến hành vào lúc sáng sớm khi dương khí ban ngày chưa gay gắt, sáng tối chưa rõ, hoặc vào buổi đêm tối.

4. Tuyệt đối không nên cải táng khi nào?

Có ba điều mà một khi xảy ra thì người nhà tuyệt đối không nên tiến hành cải táng, vì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến gia đình và phần âm, gọi là ba điều “tường thụy”. Ba điều đó bao gồm:

Một là, khi đào đất thấy có con rắn vàng. Đây là điềm long xà khí vật, tức là khí thịnh, có rắn (long xà) hoặc khí vật. Nếu cải táng sẽ ảnh hưởng đến thịnh khí trên mộ, sẽ gặp vận hạn xui xẻo.

Hai là, khi mở quan tài thấy có dây tơ hồng quấn quít. Đây là tượng mộ kết, có khí tốt, thịnh, may mắn. Gặp trường hợp này thì phải đóng nắp quan tài lại ngay không tiếp tục cải táng nữa, táng vào vị trí cũ.

Ba là, đất có sinh khí ấm áp, huyệt mộ khô ráo, không có nước hoặc nước đóng giọt như sữa. Mộ phần nơi táng cỏ mọc xanh tốt đẹp đẽ, thậm chí còn thấy đất mộ có dấu hiệu nở ra. Đây cũng là tượng mộ kết, phải lập tức ngưng cải táng lại và tiếp tục táng mộ huyệt tại đó, nếu cứ tiếp tục cải táng sẽ không may đem lại tai vạ cho gia đình.  

5. Các thủ tục trong ngày cải táng

Trước hôm cải táng, gia đình làm lễ cáo vong và cáo gia tiên (cáo từ đường). Đến ngày táng, gia đình đến nơi mộ phần hung táng (chôn trước khi cải táng) làm lễ khấn Thổ công xin được đào mộ lên, rồi lại cúng khấn Thổ công nơi sắp táng mộ cải táng vào.

Đầu tiên khai mả, đào đất, cạy nắp quan tài, sau đó thu nhặt lấy xương để xếp vào tiểu sành. Việc thu nhặt xương cần phải thật cẩn trọng, chăm chú để không bỏ sót, đặc biệt phải để ý các đốt xương ngón tay ngón chân vì nhỏ dễ lọt mất.

Xương sau khi được thu lượm sẽ được rửa sạch, xếp vào một cái tiểu sành, rẩy nước ngũ hương, phủ giấy trang kim, đậy nắp thật kín để tránh không cho ánh sáng mặt trời lọt vào. Nhà nào phú quý giàu có thì dùng cả quan quách khâm liệm giống như khi hung táng. Thường thì dùng tiểu sành sẽ giữ được lâu hơn.

Việc thu nhặt xương xếp vào tiểu sành gọi là “sang tiểu” (thường tục ngữ có câu “Đợi đến lúc sang tiểu” nghĩa là “đợi cho đến khi chết cũng chưa làm được”).

Sau đó, tiểu sành được đem cải táng sang đất khác. Quan tài cũ nát thì đem bỏ đi, các tấm gỗ tốt có thể đem về tận dụng làm bắc cầu, làm lót chuồng cho trâu ngựa đứng khỏi đau chân…các việc kém, tránh tận dụng làm các vật dụng trong nhà như tủ gỗ giường sẽ rất xui xẻo.

6. Lưu ý cho việc cải táng

Trước khi hung táng thì đắp mộ hình vuông, đến khi cải táng thì đắp mộ hình tròn, nhà có điều kiện thì xây lăng, còn không thì dựng mộ chí đợi khi tuần tiết ra thăm viếng.

Các công việc cải táng thường sẽ do người chuyên làm nghề cải táng tiến hành, hoặc do đội ngũ chuyên môn riêng. Bởi họ là những người thông thạo phong tục cải táng, các thủ tục cần thiết, do đó có thể tiến hành cải táng nhanh chóng, thành thạo, hạn chế tối đa xảy ra rủi ro trong lúc cải táng. Do đó gia đình nên lựa chọn đội ngũ cải táng thích hợp nhất.

Việc chọn đất táng mộ mới cũng rất quan trọng, gia đình nên tham khảo ý kiến thầy tử vi, thầy địa lý để chọn cục đất tốt, thích hợp, đem đến vận may phúc lớn lâu dài cho gia đình, gia tộc.

Thủ tục cải táng là thủ tục tâm linh có ý nghĩa quan trọng, chính vì vậy gia đình cần có sự cân nhắc, chuẩn bị kỹ lưỡng, cẩn thận trước khi tiến hành.

Nguồn tham khảo:

– Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục (1915).

– Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu, Đất Lề Quê Thói – Phong tục Việt Nam (1968).

Xem thêm: Tiểu quách là gì? các kích thước tiểu quách

Chuyên mục: Blog